lam phat va dau tu

Lạm phát là gì?

Lạm phát được định nghĩa là sự gia tăng giá cả hàng hóa và dịch vụ của 1 nền kinh tê trong một khoảng thời gian. Có thể hiểu lạm phát là sự giảm sút sức mua của một đồng tiền nhất định.

Ví dụ về lạm phát: Năm 2020, bạn mua 1 bát phở ngoài đầu ngõ giá 30,000đ. Đến năm nay 2021, bạn vẫn mua bát phở đó, nhưng bạn phải trả 35,000đ, mặc dù bát phở đó không hề có gì thay đổi.

Nguyên nhân dẫn đến lạm phát?

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm phát, chúng được liệt kê như sau:

  • Do cầu kéo: Khi nhu cầu của thị trường với một mặt hàng nào đó tăng lên, kéo theo giá cả của mặt hàng đó tăng lên. Lúc này giá cả của các mặt hàng khác cũng theo đó leo thang, dẫn đến sự tăng giá của hầu hết các loại hàng hóa trên thị trường.Nói cách khác, nếu nhu cầu tăng nhanh hơn cung ứng, giá sẽ tăng. Điều này thường xảy ra ở các nền kinh tế đang phát triển.
  • Do chi phí đẩy: Chi phí đẩy của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, chi phí bảo hiểm cho công nhân, thuế… Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các xí nghiệp chắc chắn cũng tăng lên, vì thế mà giá thành sản phẩm cũng sẽ tăng lên nhằm bảo toàn lợi nhuận và thế là mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng sẽ tăng.
  • Do cơ cấu: Với ngành kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp tăng dần tiền công “danh nghĩa” cho người lao động. Nhưng cũng có những nhóm ngành kinh doanh không hiệu quả, doanh nghiệp cũng theo xu thế đó buộc phải tăng tiền công cho người lao động. Nhưng vì những doanh nghiệp này kinh doanh kém hiệu quả, nên khi phải tăng tiền công cho người lao động, các doanh nghiệp này buộc phải tăng giá thành sản phẩm để đảm bảo mức lợi nhuận và làm phát sinh lạm phát. Khi chi phí kinh doanh tăng lên, họ cần phải tăng giá để duy trì lợi nhuận của họ. Chi phí gia tăng có thể bao gồm những thứ như tiền lương, thuế hoặc tăng chi phí nhập khẩu
  • Do cầu thay đổi: Khi thị trường giảm nhu cầu tiêu thụ về một mặt hàng nào đó, trong khi lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên. Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm, như giá điện ở Việt Nam), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá. Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá. Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đến lạm phát.
  • Do xuất khẩu: Khi xuất khẩu tăng, dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung (thị trường tiêu thụ lượng hàng nhiều hơn cung cấp), khi đó sản phẩm được thu gom cho xuất khẩu khiến lượng hàng cung cho thị trường trong nước giảm (hút hàng trong nước) khiến tổng cung trong nước thấp hơn tổng cầu. Khi tổng cung và tổng cầu mất cân bằng sẽ nảy sinh lạm phát.
  • Do nhập khẩu: Khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng (do thuế nhập khẩu tăng hoặc do giá cả trên thế giới tăng) thì giá bán sản phẩm đó trong nước sẽ phải tăng lên. Khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên sẽ hình thành lạm phát.
  • Lạm phát tiền tệ: Khi cung lượng tiền lưu hành trong nước tăng, chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại tệ; hay do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước làm cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát.

Cách tính lạm phát?

Để tính toán chỉ số lạm phát của một quốc gia, có 1 cách tính cơ bản nhất là sự dụng chỉ số CPI giữa 2 khoảng thời gian cụ thể (năm). Chỉ số giá tiêu dùng – CPI là thước đo xem xét mức giá bình quân của một rổ hàng hóa và dịch vụ của người tiêu dùng. Bạn có thể hình dung theo một cách đơn giản như sau, năm 2020 bạn vào siêu thị, mua 1 rổ hàng hóa thiết yếu, bao gồm nhiều các sản phẩm thiết yếu khác nhau. Tiếp theo 1 năm sau – 2021, bạn trở lại siêu thị và cung mua 1 rổ hàng với các loại hàng hóa giống hệt như vậy. Tỷ lệ lạm phát sẽ được tính theo công thức:

Tỷ lệ lạm phát phần trăm = (Giá trị chỉ số CPI cuối cùng / Giá trị CPI ban đầu) * 100

Khi đó bạn sẽ ra được con số lạm phát chênh lệch giữa 2 năm 2020 và 2021.

Lạm phát của Việt Nam qua các năm 1999-2019

Phân loại mức độ lạm phát?

Có 3 mức độ lạm phát, được phân loại như sau:

Lạm phát vừa phải

Lạm phát vừa phải là lạm phát có tỷ lệ dưới 10%/1 năm, tác động tới giá cả tạo nên biến động tương đối. Trong thời kỳ lạm phát vừa phải, nền kinh tế hoạt động bình thường, đời sống của lao động ổn định, giá cả tăng lên chậm, lãi suất tiền gửi không cao, không có tình trạng mua bán và tích trữ hàng hoá với số lượng lớn…

Lạm phát phi mã

Lạm phát phi mã khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2 hoặc 3 con số một năm, làm cho giá cả chung tăng lên nhanh chóng, gây biến động lớn về kinh tế. Lúc này người dân tích trữ hàng hoá, vàng bạc, bất động sản và không bao giờ cho vay tiền ở mức lãi suất bình thường.

Siêu lạm phát

Siêu lạm phát khá khủng khiếp, nó khiến tốc độ lưu thông tiền tệ tăng nhanh, giá cả tăng nhanh không ổn định, tiền lương thực tế bị giảm mạnh, tiền tệ mất giá nhanh chóng thông tin không còn chính xác, các yếu tố thị trường biến dạng và hoạt động kinh doanh lâm vào tình trạng rối loạn.

Tiền ảo (tiền mã hóa) và lạm phát?

Một trong những giải pháp để đối phó với lạm phát, hạn chế việc giảm sức mua của đồng tiền tích lũy, đó là đầu tư. Về danh mục đầu tư có rất nhiều lựa chọn như: vàng, bất động sản, cổ phiếu, đầu tư quỹ mở,…và gần đây nhất là đầu tư vào tiền mã hóa – đầu tư tiền ảo.

Có một số khác biệt nhất định giữa tiền mã hóa và tiền pháp định (fiat) của các quốc gia, đó là tổng khối lượng của Bitcoin là cố định, nguồn cung của Bitcoin là 21 triệu coin. Chính sự khác biệt này làm cho Bitcoin trở thành 1 đồng tiền giảm phát, chống lại sự lạm phát. Ở một số quốc gia siêu lạm phát, như Venezula, người dân bắt đầu sử dụng Bitcoin hoặc các loại tiền điện tử/tiền mã hóa khác để đối phó với vấn đề này.

Rate this post
Thông tin trên Học viện Tiền Ảo được tổng hợp và chia sẻ với mục đích thiện chí, hướng dẫn và hỗ trợ góc nhìn cho nhà đầu tư. Bạn đọc xin lưu ý tự có trách nhiệm với bất cứ quyết định nào liên quan đến đầu tư.

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.